Video hướng dẫn viết các mẫu chữ cái thường

Mẫu Chữ Viết 2 Lời bình »

Chữ a

Chữ ă

Chữ â

Đọc thêm »

Share

Bí quyết để viết chữ đẹp

Chữ Viết 360 12 Lời bình »

“Bí quyết này chỉ áp dụng với kiểu viết giống chữ in “

1. Để viết đẹp phải dựa trên cơ sở nét sổ xuống và nét uốn tròn


2. Tất cả những chữ nhỏ đều bắt đầu từ trên xuống

.

3. Tất cả nét sổ xuống đều phải song song với nhau

.

4. Tất cả những chữ cái tương tự nhau có chiều cao bằng nhau.

5. Tất cả những nét sổ xuống đều có khoảng các bằng nhau

.

6. Khoảng cách giữa các từ rộng bằng một chữ “o”

7. Chiều cao của chữ nhô lên ( ví dụ : chữ “h”) và chữ thụt xuống (ví dụ chữ “g”) không nên cao gấp đôi chữ cái nhỏ

8. Chữ hoa không nên cao hơn chữ thường

9. Các dòng khi viết phải đảm bảo chữ thụt xuống dòng trên và chữ nhô lên dòng dưới không chạm vào nhau.

10. Những chữ kết thúc ở phía trên thì điểm nối với chữ tiếp theo thì nằm ngang.

11. Những chữ kết thúc ở phía dưới thì điểm nối với chữ tiếp theo nằm chéo lên

12. Những chữ kết thúc bằng nét quay về bên trái thì tốt nhất là không nối vào chữ tiếp theo.

Share

RÈN CHỮ VIẾT CHO HỌC SINH LỚP 1 ĐỂ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG “VỞ SẠCH CHỮ ĐẸP”

Chữ Viết 360 Chưa có lời bình »

DOWNLOAD

Một trong những hạnh phúc lớn nhất của trẻ là được đến trường, được học đọc, học viết. Biết đọc, biết viết thì cả một thế giới mới rộng lớn mênh mông sẽ mở ra trước mắt các em.

Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường. Vì vậy dạy chữ chính là dạy người.

Cố vấn Phạm Văn Đồng đã nói: “Chữ viết cũng là một biểu hiện của nết người. Dạy cho học sinh viết đúng, viết cẩn thận, viết đẹp là góp phần rèn luyện cho học sinh tính cẩn thận, tính kỷ luật, lòng tự trọng đối với mình cũng như đối với thày và bạn mình”.

Chữ viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm. Nhiều thế hệ thày cô giáo đã trăn trở, góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy học chữ viết. Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết sai, viết xấu, viết chậm. Điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới các môn học khác.

Tiểu học là bậc học nền tảng, dạy Tiếng Việt và tập viết Tiếng Việt là chúng ta đã trao cho các em chìa khóa để mở ra những cánh cửa bước vào tương lai, là công cụ để các em vận dụng suốt đời.

Nhận thức được tầm quan trọng đó, tôi đã mạnh dạn chọn đề tài “Rèn chữ viết cho học sinh lớp 1 để nâng cao chất lượng vở sạch chữ đẹp.

(SKKN của Trần Thu Hương- Trường tiểu học Lý Thường Kiệt- Đống Đa- Hà Nội)

Share

Địa chỉ trung tâm Luyện Chữ Đẹp

Chữ Viết 360 3 Lời bình »
Địa chỉ trung tâm Luyện Chữ Đẹp

Địa chỉ trung tâm Luyện Chữ Đẹp

Share

Hướng dẫn cầm bút

Chữ Viết 360 2 Lời bình »

Căn cứ vào các thao tác khi viết, tư thế ngồi, cách cầm bút và các cử động của ngón tay cổ tay…. Căn cứ vào mẫu chữ được quy định theo Quyết định 31/2002 Bộ GD – ĐT.

Chúng tôi đã tính toán và đưa ra thông số kỹ thuật của cây bút và ngòi bút sao cho hiệu quả nhất và hợp lý nhất cho việc chữ nét thanh nét đậm.

1. Lựa chọn bút viết cần đảm bảo một số yêu cầu sau

  • Bút không quá dài hoặc quá ngắn khoảng 13 cm là vừa phải
  • Bút không to hoặc nhỏ quá nhất là chỗ tay cầm bút đường kính 7 mm là vừa
  • Phần ngòi bút và lưỡi gà cắm vào cổ bút phải vừa khít không quá rộng hoặc quá chật. Phần ngòi bút không được mềm quá dễ bị hỏng.
  • Các bộ phận khác của bút phải đảm bảo cho việc hút mực, giữ mực và ra mực đều.
  • Toàn bộ trọng lượng cây bút không được quá nặng hoặc quá nhẹ ( khoảng 8 đến 10g/1 cây bút là vừa )

2. Phần cải tiến

Bút thông thường thì phần đầu ngòi bút thường tròn đó là bi hoặc hạt gạo có tác dụng viết trơn, xoay được các chiều. Để viết được nét thanh nét đậm cần phải cải tiến phần đầu ngòi – Mài hết hạt gạo sai cho đầu ngòi bút mỏng dẹt. Độ mỏng của đầu ngòi có thể đạt tới mức 0,1mm, chiều rộng của đầu ngòi bút phụ thuộc theo yêu cầu của mẫu chữ kiểu chữ viết thông thường từ 0,5mm đến 2mm. Tạo ra độ nghiêng phù hợp với tay viết (nghiêng sang phải khoảng 20,5 độ). Đầu ngòi bút phải có các góc, các cạnh để chữ viết có độ nét.

Ngòi bút không quá trơn để điều khiển được bút theo ý người viết, không quá sắc để khi viết không bị gai tránh việc rách giấy và nhoè mực. Điều chỉnh rãnh dẫn mực đến đầu ngòi cho vừa phải nhiều hơn bút bình thường vì nét đậm cần xuống mực nhiều hơn.

3. Sử dụng bút cải tiến.

a. Các thao tác chuẩn bị.

Chuẩn bị giấy, vở là loại giấy tốt không nhoè vì hiện nay thị trường bút bi rất nhiều loại phong phú, đa dạng nên các nhà sản xuất giấy ít quan tâm đến chất lượng giấy viết cho bút mực do vậy nhiều loại giấy không sử dụng được cho viết bút mực. Giấy viết tốt và đạt hiệu quả cao trong việc rèn chữ là loại vở ô li có dòng kẻ carô nhỏ.

Rửa sạch bút bằng nước trước khi hút mực lần đầu, hút đầy mực và lau mực ở phần đầu ngòi.

b. Cách viết:

Cầm bút bằng 3 ngón tay, bút được kẹp ở giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa ngón giữa đỡ phía dưới chỗ tay cầm, ngón trỏ ở phía trên chỗ tay cầm ngón cái giữ bút ở phía ngoài.

Giữ bút nghiêng khoảng 45 độ so với mặt giấy về phía người viết và tạo một góc 15 độ so với dòng kẻ dọc của trang giấy, bút đặt úp ngòi.

Cổ tay thẳng thoải mái với cánh tay. Điều khiển bút cơ bản bằng 3 ngón tay theo cử động lên xuống nhẹ nhàng.

Bút chỉ viết một chiều, không tỳ mạnh tay nhất là những nét từ dưới đưa lên.

4. Đánh giá ưu khuyết điểm.

a. Ưu điểm:

Bút viết được nét thanh nét đậm rõ ràng, sắc nét, đều mực không phải chấm mực. Khi viết không cần tỳ mạnh tay. Do cấu tạo phần đầu ngòi mỏng và có chiều rộng nên khi viết cạnh mỏng là những nét đưa lên ứng với nét thanh của chữ và khi đưa xuống bề rộng ngòi bút sẽ tiếp xúc với mặt giáy tạo ra nét đậm rõ ràng.

Tạo thói quen và kỹ năng cầm bút đúng quy định. Loại bút này có cạnh không quá trơn, chỉ viết được một chiều nên phải cầm bút đúng mới viết được. Với loại bút thông thường đầu ngòi tròn có thể viết được các chiều khác nhau do đó bút có thể cầm ở nhiều tư thế mà vẫn viết được đó là nguyên nhân tạo thói quen cầm bút tuỳ tiện không đúng quy định.

Viết đúng quy trình, liền mạch, đủ nét: Đặt bút đúng điểm bắt đầu của mỗi con chữ, viết liền mạch, chữ viết không rời rạc các nét nối mềm mại và đảm bảo tốc độ viết nhanh.

Lợi ích kinh tế: Một học sinh trung bình trong năm học chi khoảng 50 nghìn đồng nếu sử dụng bút bi, khoảng 100 – 200 nghìn đồng nếu sử dụng bút kim, dạ kim…… nếu viết bút mực thông thường chỉ hết khoảng 20 nghìn đồng.

Lợi ích về môi trường: Song song với việc chi nhiều tiền mua bút thì việc học sinh vứt ra môi trường nhiều các loại vỏ và ruột bút kim, bút bi, bút dạ bằng nhựa ra môi trường loại nhựa này rất khó phân huỷ gây ô nhiếm môi trường. Đối với bút mực học sinh có thể sử dụng 1 hoặc nhiều năm.

b.Nhược điểm:

Bút mài nét thanh nét đậm chỉ viết được một chiều nên có thể gây khó khăn bước đầu cho người đang có thói quen cầm bút sai.

Đối với học sinh lớp 1, 2 gặp khó khăn trong việc hút mực nên khi viết dễ giây bẩn và hỏng bút.Có thể gây nhoè mực trên các loại giấy kém chất lượng.

Share

Học chữ cái thế nào là tốt nhất?

Chữ Viết 360 Chưa có lời bình »
Các bé mẫu giáo lớn sắp được nghỉ hè và chuẩn bị bước vào lớp 1. Nhiều bố mẹ lo lắng không biết bé có chịu học không, vì bây giờ bé đang quen chơi rồi mà!
Tại sao mẹ không thử dạy bé học chữ dần dần qua những trò chơi vô cùng thú vị mà đơn giản nhỉ?
1. “Trốn tìm với chữ cái”
Mẹ dạy bé một chữ cái rồi mẹ giấu chữ cái đó đi và gợi ý cho bé tìm ra chữ cái đó. Khi bé tìm được, mẹ yêu cầu bé đọc to chữ cái đó lên. Đừng quên khen bé nếu bé đọc đúng. Nếu bé đọc chưa đúng, mẹ hãy hướng dẫn bé đọc lại và động viên bé ở lần chơi sau.
Khi mẹ đã dạy bé được nhiều chữ cái, mẹ hãy giấu tất cả các chữ cái đó. Mẹ cứ đọc to một chữ cái và “nhờ” bé đi tìm.
Có thể đổi lại, bé giấu chữ cái và mẹ đi tìm nhé.
2. Học chữ qua sự biểu lộ tình cảm
Mẹ hãy dạy bé nhớ chữ cái qua cách biểu lộ tình cảm.
Ví dụ, mẹ dạy bé chữ C, mẹ cho bé biết: “Chữ C là chữ đứng đầu của từ cười, cay, con cá…”. Sau đó, mẹ làm điệu bộ xuýt xoa vì ăn phải miếng ớt cay hoặc mẹ cười to và hỏi bé, những từ đó bắt đầu bằng chữ cái gì.
Chắc chắn, bé sẽ nhớ chữ cái rất nhanh và lâu, học thêm cả cách ghép từ nữa.
3. Học chữ qua đồ chơi
Chắc chắn, bé nào cũng được bố mẹ mua cho rất nhiều đồ chơi. Mẹ có thể tận dụng những đồ chơi đó để dạy bé học chữ.
Ví dụ, bé gái có rất nhiều thú bông, búp bê, đồ chơi nấu ăn… Mẹ có thể thông qua các đồ chơi đó để dạy bé những chữ tương ứng như chữ B, chữ N…
Những chữ cái mẹ đã dạy có thể treo lên trên tường. Nếu mẹ đọc chữ nào, bé hãy giơ chữ đồ chơi tương ứng với chữ cái đó cho mẹ xem và ngược lại.
4. Học chữ qua động tác
Trò chơi này cũng giống như cách học chữ qua sự biểu lộ tình cảm.
Ví dụ, mẹ dạy bé chữ C trong từ “chạy”, mẹ vừa đọc to chữ C và vừa làm động tác chạy. Sau đó mẹ có thể làm động tác chạy và hỏi bé đó hành động bắt đầu bằng chữ gì.
Nếu mẹ đã dạy bé được nhiều từ, mẹ có thể làm nhiều động tác và yêu cầu bé đoán chữ cái.
Có thể đổi lại, bé làm động tác và mẹ đoán chữ cái.
5. Học chữ qua đồ ăn
Khi bé ăn cơm, các loại hoa quả, bánh kẹo, mẹ có thể dạy bé các từ tương ứng với các vị như: ngọt, đắng, cay, chua, nóng, lạnh…
Mẹ cũng có thể tranh thủ dạy bé các chữ cái thông qua các món ăn mà bé thích như xúc xích, sữa chua, hoa quả. Bé vừa ăn vừa chơi đố chữ cái với mẹ. Có khi, vừa học chữ cái vừa chơi như thế, bé sẽ ăn ngon và ăn được nhiều hơn bình thường.
6. Học chữ qua các biển quảng cáo
Hầu như bé nào cũng có sở thích là xem quảng cáo. Mẹ có thể dạy bé các chữ cái thông qua các nhãn hàng, thương hiệu được quảng cáo.
Ví dụ, quảng cáo các hãng Samsung, Sony, dầu gội đầu Sunsilk mẹ dạy bé chữ S.
Mẹ cũng có thể dạy bé các chữ cái của các thương hiệu trên đồ dùng gia đình. Ví dụ, tủ lạnh Panasonic, tivi Sony, máy giặt LG…
Khi bé ra đi chơi, gặp các biển quảng cáo trên các cửa hàng, xe buýt,… mẹ cũng nên chỉ cho bé xem, dạy bé chữ cái hoặc đố bé đọc được các chữ cái trên đó.
Share

Chữ viết và chính tả – Vai trò của chữ viết và một vài nhận xét về các kiểu chữ viết

Chữ Viết 360 2 Lời bình »

1. Vai trò của chữ viết

Ngôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài đã trở thành công cụ duy nhất để con người có thể truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định. Khi hai người giao tiếp bằng lời, ảnh hưởng của ngôn ngữ âm thanh chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định. Ngoài phạm vi ấy, người này không thể nghe được tiếng nói của người kia. Như vậy là ngôn ngữ âm thanh có sự hạn chế nhất định về mặt không gian. Mặt khác, “lời nói gió bay”, mỗi lời nói chỉ được thu nhận vào đúng lúc nó được phát ra. Hết thời điểm ấy, nó không tồn tại nữa. Chính vì thế mà đến ngày nay chúng ta không còn nghe được tiếng nói của các bậc anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Xét về mặt này, ngôn ngữ âm thanh cũng không vượt qua được cái hố ngăn cách của thời gian.

Để khắc phục hai mặt hạn chế của ngôn ngữ âm thanh, con người đã tìm ra một hình thức thông tin mới: thông tin bằng chữ. Như vậy, chữ viết ra đời do nhu cầu thông tin liên lạc xét về mặt khôg gian và như cầu truyền đạt những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh xét về mặt thời gian.

Chữ viết là một hệ thống kí hiệu đồ hoạ được sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh. Chức năng của chữ viết, vì vậy, là đại diện cho lời nói. So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau. Vì vậy chữ viết tất phải phụ thuộc vào lời nói. Khi giữa lời nói và chữ viết không có sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết chứ không phải cố tìm cách phát âm theo chữ viết hiện hành, bởi vì làm như vậy là “ngược”, chẳng khác nào sửa đầu cho vừa mũ, sửa chân cho vừa dép, sửa người cho vừa quần áo.

2. Các kiểu chữ viết

2.1. Chữ viết ghi ý

Đây là loại chữ viết cổ nhất của loài người, chữ viết ghi ý không có quan hệ với mặt âm thanh mà chỉ có quan hệ với mặt ý nghĩa của ngôn ngữ. Quan nhệ giữa ý và chữ ở đây là trực tiếp.

chữ _________________ ý

Ví dụ điển hình nhất về chữ viết ghi ý là các chữ số, các dấu: 1, 2, 3, =, %, +, -,… Khi ta viết, ví dụ, số 1, người Việt, người Nga, người Pháp, người Anh, người Khmer đều hiểu, mặc dù người mỗi nơi phát âm một khác: người Việt phát âm là “một”; người Nga: [adin], người Anh: [wan] (one); người Khmer: [muoi].

Thông thường mỗi một chữ ghi ý đều biểu thị trực tiếp nội dung, ý nghĩa của một từ. Do đó, về nguyên tắc, có bao nhiêu từ phải đặt ra bấy nhiêu kí hiệu để ghi. Số lượng từ của một ngôn ngữ tuy không vô hạn nhưng rất lớn vì vậy số lượng để biểu thị ý nghĩa của nó sẽ nhiều vô kể, trong khi đó thì khả năng ghi nhớ của bộ óc con người lại có hạn. Đây là điều bất tiện cơ bản, là hạn chế chính của chữ viết ghi ý.

2.2. Chữ viết ghi âm

Chữ viết ghi âm không quan tâm đến mặt nội dung, ý nghĩa của từ mà chỉ ghi lại chuỗi âm thanh của từ đó. Chữ viết ghi âm là đại diện của ngữ âm chứ khong phải của ý nghĩa. Quan hệ giữa chữ và ý ở đây là một quan hệ gián tiếp mà âm là trung gian.

chữ _______ âm _______ ý

Chữ viết ghi âm được chia ra làm hai loại. Chữ ghi âm tiết và chữ ghi âm vị. Ở chữ viết ghi âm tiết, mỗi kí hiệu biểu thị một âm tiết. Số lượng âm tiết so với số lượng từ thì ít hơn nhiều, vì vậy chữ ghi âm tiết đơn giản hơn hẳn chữ ghi ý. Đối với chữ ghi âm vị, mỗi kí hiệu biểu thị một âm vị. Quan hệ giữa âm vị và kí hiệu là quan hệ 1–1 đối với một hệ thống chữ viết lí tưởng. Khi quan hệ này bị thay đổi, ví dụ một âm vị có nhiều cách ghi hoặc nhiều âm có một cách ghi, thì phải đặt vấn đề cải tiến chữ viết cho phù hợp với hệ thống âm vị.

So với chữ viết ghi ý, chữ viết ghi âm, nhất là chữ ghi âm vị, tiến bộ hơn nhiều. Ưu thế đặc biệt của kiểu chữ viết này là ở chỗ số lượng kí hiệu ghi âm được giảm xuống nhiều lần vì số lượng âm vị của một ngôn ngữ thường chỉ nằm trong khoảng “trên 10 và dưới 100” (theo P.X. Kuznêxov), do đó con người có thể tiết kiệm được sức lực và thời gian trong việc học đọc, học viết.

Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng PhiếnCơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 119–126.

Share
Thoi trang | Blackbery | Giày Dép | Thiết Kế Website | Thời trang trẻ em | Tin tuc tua lua | xem phim giai tri | nem ninh hoa

© Copyright 2008 by Luyện Chữ Đẹp Thiết kế website & cung cấp Hosting quantriWEB.com
Bài viết Lời bình Log in