
Địa chỉ trung tâm Luyện Chữ Đẹp

Địa chỉ trung tâm Luyện Chữ Đẹp
Căn cứ vào các thao tác khi viết, tư thế ngồi, cách cầm bút và các cử động của ngón tay cổ tay…. Căn cứ vào mẫu chữ được quy định theo Quyết định 31/2002 Bộ GD – ĐT.
Chúng tôi đã tính toán và đưa ra thông số kỹ thuật của cây bút và ngòi bút sao cho hiệu quả nhất và hợp lý nhất cho việc chữ nét thanh nét đậm.
1. Lựa chọn bút viết cần đảm bảo một số yêu cầu sau
2. Phần cải tiến
Bút thông thường thì phần đầu ngòi bút thường tròn đó là bi hoặc hạt gạo có tác dụng viết trơn, xoay được các chiều. Để viết được nét thanh nét đậm cần phải cải tiến phần đầu ngòi – Mài hết hạt gạo sai cho đầu ngòi bút mỏng dẹt. Độ mỏng của đầu ngòi có thể đạt tới mức 0,1mm, chiều rộng của đầu ngòi bút phụ thuộc theo yêu cầu của mẫu chữ kiểu chữ viết thông thường từ 0,5mm đến 2mm. Tạo ra độ nghiêng phù hợp với tay viết (nghiêng sang phải khoảng 20,5 độ). Đầu ngòi bút phải có các góc, các cạnh để chữ viết có độ nét.
Ngòi bút không quá trơn để điều khiển được bút theo ý người viết, không quá sắc để khi viết không bị gai tránh việc rách giấy và nhoè mực. Điều chỉnh rãnh dẫn mực đến đầu ngòi cho vừa phải nhiều hơn bút bình thường vì nét đậm cần xuống mực nhiều hơn.
3. Sử dụng bút cải tiến.
a. Các thao tác chuẩn bị.
Chuẩn bị giấy, vở là loại giấy tốt không nhoè vì hiện nay thị trường bút bi rất nhiều loại phong phú, đa dạng nên các nhà sản xuất giấy ít quan tâm đến chất lượng giấy viết cho bút mực do vậy nhiều loại giấy không sử dụng được cho viết bút mực. Giấy viết tốt và đạt hiệu quả cao trong việc rèn chữ là loại vở ô li có dòng kẻ carô nhỏ.
Rửa sạch bút bằng nước trước khi hút mực lần đầu, hút đầy mực và lau mực ở phần đầu ngòi.
b. Cách viết:
Cầm bút bằng 3 ngón tay, bút được kẹp ở giữa ngón tay trỏ và ngón tay giữa ngón giữa đỡ phía dưới chỗ tay cầm, ngón trỏ ở phía trên chỗ tay cầm ngón cái giữ bút ở phía ngoài.
Giữ bút nghiêng khoảng 45 độ so với mặt giấy về phía người viết và tạo một góc 15 độ so với dòng kẻ dọc của trang giấy, bút đặt úp ngòi.
Cổ tay thẳng thoải mái với cánh tay. Điều khiển bút cơ bản bằng 3 ngón tay theo cử động lên xuống nhẹ nhàng.
Bút chỉ viết một chiều, không tỳ mạnh tay nhất là những nét từ dưới đưa lên.
4. Đánh giá ưu khuyết điểm.
a. Ưu điểm:
Bút viết được nét thanh nét đậm rõ ràng, sắc nét, đều mực không phải chấm mực. Khi viết không cần tỳ mạnh tay. Do cấu tạo phần đầu ngòi mỏng và có chiều rộng nên khi viết cạnh mỏng là những nét đưa lên ứng với nét thanh của chữ và khi đưa xuống bề rộng ngòi bút sẽ tiếp xúc với mặt giáy tạo ra nét đậm rõ ràng.
Tạo thói quen và kỹ năng cầm bút đúng quy định. Loại bút này có cạnh không quá trơn, chỉ viết được một chiều nên phải cầm bút đúng mới viết được. Với loại bút thông thường đầu ngòi tròn có thể viết được các chiều khác nhau do đó bút có thể cầm ở nhiều tư thế mà vẫn viết được đó là nguyên nhân tạo thói quen cầm bút tuỳ tiện không đúng quy định.
Viết đúng quy trình, liền mạch, đủ nét: Đặt bút đúng điểm bắt đầu của mỗi con chữ, viết liền mạch, chữ viết không rời rạc các nét nối mềm mại và đảm bảo tốc độ viết nhanh.
Lợi ích kinh tế: Một học sinh trung bình trong năm học chi khoảng 50 nghìn đồng nếu sử dụng bút bi, khoảng 100 – 200 nghìn đồng nếu sử dụng bút kim, dạ kim…… nếu viết bút mực thông thường chỉ hết khoảng 20 nghìn đồng.
Lợi ích về môi trường: Song song với việc chi nhiều tiền mua bút thì việc học sinh vứt ra môi trường nhiều các loại vỏ và ruột bút kim, bút bi, bút dạ bằng nhựa ra môi trường loại nhựa này rất khó phân huỷ gây ô nhiếm môi trường. Đối với bút mực học sinh có thể sử dụng 1 hoặc nhiều năm.
b.Nhược điểm:
Bút mài nét thanh nét đậm chỉ viết được một chiều nên có thể gây khó khăn bước đầu cho người đang có thói quen cầm bút sai.
Đối với học sinh lớp 1, 2 gặp khó khăn trong việc hút mực nên khi viết dễ giây bẩn và hỏng bút.Có thể gây nhoè mực trên các loại giấy kém chất lượng.
ShareNgôn ngữ âm thanh trong một thời gian rất dài đã trở thành công cụ duy nhất để con người có thể truyền đạt cho nhau những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng ngôn ngữ âm thanh không phải không có những hạn chế nhất định. Khi hai người giao tiếp bằng lời, ảnh hưởng của ngôn ngữ âm thanh chỉ có hiệu lực trong một phạm vi nhất định. Ngoài phạm vi ấy, người này không thể nghe được tiếng nói của người kia. Như vậy là ngôn ngữ âm thanh có sự hạn chế nhất định về mặt không gian. Mặt khác, “lời nói gió bay”, mỗi lời nói chỉ được thu nhận vào đúng lúc nó được phát ra. Hết thời điểm ấy, nó không tồn tại nữa. Chính vì thế mà đến ngày nay chúng ta không còn nghe được tiếng nói của các bậc anh hùng dân tộc như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Quang Trung. Xét về mặt này, ngôn ngữ âm thanh cũng không vượt qua được cái hố ngăn cách của thời gian.
Để khắc phục hai mặt hạn chế của ngôn ngữ âm thanh, con người đã tìm ra một hình thức thông tin mới: thông tin bằng chữ. Như vậy, chữ viết ra đời do nhu cầu thông tin liên lạc xét về mặt khôg gian và như cầu truyền đạt những kinh nghiệm sản xuất và đấu tranh xét về mặt thời gian.
Chữ viết là một hệ thống kí hiệu đồ hoạ được sử dụng để cố định hoá ngôn ngữ âm thanh. Chức năng của chữ viết, vì vậy, là đại diện cho lời nói. So với lời nói thì chữ viết xuất hiện sau. Vì vậy chữ viết tất phải phụ thuộc vào lời nói. Khi giữa lời nói và chữ viết không có sự phù hợp nữa thì phải cải tiến chữ viết chứ không phải cố tìm cách phát âm theo chữ viết hiện hành, bởi vì làm như vậy là “ngược”, chẳng khác nào sửa đầu cho vừa mũ, sửa chân cho vừa dép, sửa người cho vừa quần áo.
Đây là loại chữ viết cổ nhất của loài người, chữ viết ghi ý không có quan hệ với mặt âm thanh mà chỉ có quan hệ với mặt ý nghĩa của ngôn ngữ. Quan nhệ giữa ý và chữ ở đây là trực tiếp.
chữ _________________ ý
Ví dụ điển hình nhất về chữ viết ghi ý là các chữ số, các dấu: 1, 2, 3, =, %, +, -,… Khi ta viết, ví dụ, số 1, người Việt, người Nga, người Pháp, người Anh, người Khmer đều hiểu, mặc dù người mỗi nơi phát âm một khác: người Việt phát âm là “một”; người Nga: [adin], người Anh: [wan] (one); người Khmer: [muoi].
Thông thường mỗi một chữ ghi ý đều biểu thị trực tiếp nội dung, ý nghĩa của một từ. Do đó, về nguyên tắc, có bao nhiêu từ phải đặt ra bấy nhiêu kí hiệu để ghi. Số lượng từ của một ngôn ngữ tuy không vô hạn nhưng rất lớn vì vậy số lượng để biểu thị ý nghĩa của nó sẽ nhiều vô kể, trong khi đó thì khả năng ghi nhớ của bộ óc con người lại có hạn. Đây là điều bất tiện cơ bản, là hạn chế chính của chữ viết ghi ý.
Chữ viết ghi âm không quan tâm đến mặt nội dung, ý nghĩa của từ mà chỉ ghi lại chuỗi âm thanh của từ đó. Chữ viết ghi âm là đại diện của ngữ âm chứ khong phải của ý nghĩa. Quan hệ giữa chữ và ý ở đây là một quan hệ gián tiếp mà âm là trung gian.
chữ _______ âm _______ ý
Chữ viết ghi âm được chia ra làm hai loại. Chữ ghi âm tiết và chữ ghi âm vị. Ở chữ viết ghi âm tiết, mỗi kí hiệu biểu thị một âm tiết. Số lượng âm tiết so với số lượng từ thì ít hơn nhiều, vì vậy chữ ghi âm tiết đơn giản hơn hẳn chữ ghi ý. Đối với chữ ghi âm vị, mỗi kí hiệu biểu thị một âm vị. Quan hệ giữa âm vị và kí hiệu là quan hệ 1–1 đối với một hệ thống chữ viết lí tưởng. Khi quan hệ này bị thay đổi, ví dụ một âm vị có nhiều cách ghi hoặc nhiều âm có một cách ghi, thì phải đặt vấn đề cải tiến chữ viết cho phù hợp với hệ thống âm vị.
So với chữ viết ghi ý, chữ viết ghi âm, nhất là chữ ghi âm vị, tiến bộ hơn nhiều. Ưu thế đặc biệt của kiểu chữ viết này là ở chỗ số lượng kí hiệu ghi âm được giảm xuống nhiều lần vì số lượng âm vị của một ngôn ngữ thường chỉ nằm trong khoảng “trên 10 và dưới 100” (theo P.X. Kuznêxov), do đó con người có thể tiết kiệm được sức lực và thời gian trong việc học đọc, học viết.
Theo Mai Ngọc Chừ; Vũ Đức Nghiệu & Hoàng Trọng Phiến. Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt. Nxb Giáo dục, H., 1997, trang 119–126.
ShareVấn đề chữ viết trong lịch sử dân tộc đã được nhiều giới nghiên cứu khác nhau như ngôn ngữ học, lịch sử, văn hoá học… quan tâm khảo sát từ góc độ khoa học của mình. Tuy nhiên, việc nhìn nhận vấn đề này ở khía cạnh lịch sử tiếng Việt thì có thể nói là chưa có nhiều, chưa đủ để giúp chúng ta hiểu rõ bản chất của hiện tượng văn hoá quan trọng này trong lịch sử dân tộc Việt. Vì thế, những trình bày của chúng tôi dưới đây chỉ là những đóng góp ban đầu của cá nhân về một vấn đề rất quan trọng không chỉ thuần tuý đối với lịch sử ngôn ngữ mà cả đối với xã hội. Điều đó cũng có nghĩa là chúng tôi tự giới hạn cách nhìn nhận vấn đề chữ viết qua lăng kính lịch sử tiếng Việt.
Trước khi đi vào chi tiết, xin trình bày đôi nét chung theo nhận thức của chúng tôi về vấn đề này. Chữ viết là một phương thức biểu thị chuỗi lời nói bằng những kí hiệu viết-đồ hình, do đó cũng như ngôn ngữ, nó luôn luôn mang tính hệ thống. Điều này cũng có nghĩa chữ viết luôn luôn là một dạng thức kí hiệu có tính hệ thống của ngôn ngữ. Chính vì thế, khi nhìn ở khía cạnh lịch sử, người ta chỉ có thể nói một kiểu văn tự nào đó đã ra đời khi những kí hiệu viết-đồ hình ấy đã thoả mãn tính hệ thống cả ở bản thân chúng lẫn sự hành chức của chúng.
Người ta có thể nhìn nhận tính hệ thống ở nhiều khía cạnh khác nhau. Nhưng có lẽ chỉ khi nào những kí hiệu viết-đồ hình đủ đảm bảo biểu thị chuỗi lời nói một cách đầy dủ thì tính hệ thống của nó mới được xác lập. Điều này có nghĩa là sự xuất hiện lẻ tẻ một vài kí hiệu chỉ đơn thuần là sự manh nha chứ chưa phải là một hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ cụ thể. Điều này cũng có nghĩa là sự xuất hiện một hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ cụ thể là một quá trình, với sự khởi đầu và thời điểm hoàn chỉnh.
Thời điểm hoàn chỉnh một hệ thống chữ viết của một ngôn ngữ cụ thể chính là dấu hiệu thể hiện tính hệ thống trong sự hành chức của chúng. Đặc điểm hình thức của dấu hiệu này có lẽ là khi ấy chủ thể ngôn ngữ đã có đầy đủ kí hiệu đồ hình để biểu thị chuỗi lời nói của mình và tốt nhất trong lịch sử người ta đã lưu giữ được nhũng văn bản sử dụng hệ thống chữ viết ấy. Với cách nhìn có tính lịch đại như trên, đối với chúng tôi, tính đầy đủ của kí hiệu đồ hình dùng để biểu thị chuỗi lời nói là điều kiện quan trọng nhất ghi nhận sự xuất hiện của một hệ thống chữ viết.
Theo Trần Trí Dõi (2005). Giáo trình lịch sử tiếng Việt (sơ thảo). Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
Share1. Chữ U và V tròn ở đáy? Bạn nhạy cảm và có tâm hồn thi ca.
2. Bạn gạch ngang chữ T ở giữa hay trên đỉnh? Gạch ngang càng thấp, bạn càng ít tham vọng.
3. Bạn ngoắc tròn chữ C ở trên đầu? Bạn rất kiêu ngạo.
4. Chữ A và O của bạn khép kín? Bạn đang che giấu một điều gì đó.
5. Chữ của bạn xiêu vẹo mọi hướng? Hãy cẩn thận. 70-80% những người phạm tội có chữ viết kiểu này, so với 10% dân số nói chung.
6. Chữ ký của bạn khác so với chữ viết thông thường? Bạn đang chuẩn bị có hành động mờ ám.
7. Chữ viết của bạn nhọn và góc cạnh? Hãy thư giãn đi, không việc gì phải căng thẳng.
8. Chữ viết của bạn béo lùn? Nếu chúng to nhất ở phần giữa, không mở rộng nhiều ở phần trên hoặc dưới, bạn có tính trẻ con.
Dựa vào độ cao của nét chữ có thể chia ra thành: rất cao, cao vừa phải, thấp hay là thấp vừa. Tất nhiên, việc chia ra như vậy có vẻ như chỉ đạt được mức độ chính xác tương đối. Chữ viết càng cao thì người viết đó có óc tưởng tượng phong phú và có tâm lý duy tâm. Chữ viết ở độ cao trung bình thì người viết đó là con người sáng suốt, thực tế. Người viết chữ thấp là người quan tâm đến yếu tố vật chất hơn là tinh thần.
Những người có chữ viết nghiêng về bên trái là người sống có nội tâm, luôn suy nghĩ. Nghiêng về bên phải là những người thích hướng ngoại, sống sôi nổi, thích làm việc. Người viết chữ đứng là người sáng suốt, cẩn thận, tự chủ.
Người viết chữ lớn là những người có tính thích ngao du. Viết chữ trung bình là người có tính tự chủ tốt, có năng lực học tập, trong công việc thường tập trung cao độ. Người viết chữ nhỏ thường là các nhà khoa học nghiên cứu, người hay suy nghĩ cẩn thận, chín chắn trong công việc.
Đây là đặc điểm dễ nhận ra của một kiểu chữ, chữ viết có góc cạnh nhọn sắc là người thông minh, biết giữ im lặng. Người viết chữ có vòng cong thì tinh thần nhiệt tình trong công việc, yêu nghệ thuật, âm nhạc, văn hóa. Người viết chữ rộng khoanh tròn thể hiện là người lười biếng, tính vị tha, vui vẻ thân thiện, thích xã giao nhưng luôn nghĩ về gia đình. Những người viết kiểu chữ vòng ngược lại phía trước hay có những móc về bên trái là những người có cá tính mạnh mẽ, kiêu ngạo.
Là đường tạo bởi chân các con chữ với nhau thành một đường kẻ. Đường nền hướng lên cao là người có lạc quan, nhiều hoài bão, nhưng dễ bị kích động, phấn khích. Nếu đường nền đi xuống thì tính tình của người viết khép kín, bi quan. Nếu đường nền đi ngang qua trang giấy là loại người sống có nguyên tắc, kỷ luật và quyết đoán, mạnh mẽ trong cuộc sống riêng tư.
Người bỏ nhiều sức lực vào cây bút khi viết nhấn mạnh xuống thì người đó là một kẻ hung hăng, tâm lý không vững vàng. Người viết khi nhấn bút trung bình là người điềm tĩnh biết kiềm chế bản thân và có khiếu hài hước. Người khi viết mà nhẹ nhàng trên trang giấy là người luôn cảnh giác đa cảm. Còn người viết có độ nhấn không đều là người có cá tính không vững vàng thay đổi tùy theo sắc thái tình cảm.
Người viết nhanh, chữ đơn giản, nhỏ là người thông minh, có tài, tính quyết đoán, tâm lý thoải mái, dễ hòa nhập. Người viết chậm là người cẩn thận sống có nền nếp, tự chủ.
Chữ viết hoa mà rộng là người viết có tính cách khoa trương. Nếu viết hoa chữ nhỏ là người khiêm tốn. Còn người viết hoa trung bình là người cân bằng trí tuệ và tình cảm. Nếu viết hoa cao mà hẹp là người có tâm lý tốt nhưng khó hòa hợp, dễ thất bại. Người viết hoa to mà vòng cung chỉ ra con người có nhân cách lịch sự hòa nhã.
ShareTư thế ngồi học đúng là khi đầu và thân được giữ thẳng, hai vai hơi mở ra phía sau (nhờ vậy mà ngực được ưỡn căng ra phía trước), bụng gọn vùng thắt lưng hơi cong ra phía trước, chân thẳng. Cha mẹ cần hướng dẫn để điều chỉnh những tư thế sai lệch.
Nếu đứa trẻ có tư thế thân không đúng thì lồng ngực thu hẹp dần thành phẳng đều, các góc xương bả vai cách xa cột xương sống và bắt đầu nhô lên, lưng gù và bụng phình ra phía trước. Nếu không kịp thời điều chỉnh thì cột sống bị cong vẹo, xuất hiện đường uốn nghiêng làm lưng gù rõ rệt. Những điều này gây tổn hại rất lớn đến sức khỏe, bởi vì tim, phổi khó hoạt động, thở không sâu làm giảm tính cơ động của lồng ngực, giảm dung tích sống của phổi, trẻ sẽ dần dần yếu ớt, sức khỏe giảm sút rõ rệt.
Tư thế chung của cơ thể cũng phụ thuộc nhiều vào tư thế của cột sống và xương chậu. Điều đó có liên quan chủ yếu đến sự căng cơ và các dây chằng bao quanh cột sống và xương chậu. Cột sống là trục xương chủ yếu giữ đầu và thân mình.
Xương chậu được coi là nền tảng của cột sống. Nếu như những cơ của thân được phát triển đều thì sức kéo của các cơ co cân bằng với sức kéo của các cơ duỗi, lúc đó đầu và thân người được giữ thẳng. Tư thế bình thường của bả vai, tay chân phụ thuộc vào mức độ phát triển và trương lực (sự căng cơ) của các nhóm cơ của chúng – có ảnh hưởng lớn đến tư thế chung.
Điêu đặc biệt quan trọng là phải theo dõi chu đáo tới tư thế đúng của thân thể trẻ em. Không chỉ khi chúng ngồi, đi, nằm ngủ mà còn trong lúc hoạt động khác như vui chơi.
Nguyên nhân của sai lệch tư thế co rất nhiều. Có thể là thói quen chuyên đứng trên một chân (xương chậu ở tư thế so le và cột sống sẽ gãy vẹo về một phía), đi không đúng (thõng vai, gù lưng…) cần phải điều chỉnh thường xuyên với hiện tượng này.
Nhất thiết phải dạy trẻ biết ngồi đúng khi học bài. Chiều cao bàn, ghế cần phù hợp với chiều cao trẻ. Ví dụ: nếu như trẻ ngồi vẽ lâu ở bàn cao quá thì nó phải nâng vai mới đặt được tay lên bàn. Nếu như bàn lại thấp thì trẻ buộc phải co gập trên bàn, vai đầu gập về phía trước và dẫn tới gù lưng. Do vậy, phải điều chỉnh sao cho khoảng cách giữa chiều cao bàn và mặt ghế ngồi không thấp hơn 22cm và không cao hơn 27cm.
Ngoài ra, biện pháp quan trọng nhất để đề phòng và chữa sai lệch tư thế cơ thể là luyện tập thể dục. Đối với trẻ nhỏ, có thể tập các bài tập thể chất chung để củng cố sự phát triển đúng đắn của cơ thể. Khi trẻ được 5-6 tuổi có thể dần chuyển sang các bài tập chuyên môn có tác dụng hình thành tư thế đúng cho cơ thể. Những bài tập này có thể tiến hành dưới dạng trò chơi hoặc các hình thức vận động để hấp dẫn trẻ tham gia.
Share
Lời bình cuối